Địa lý
Huyện Ba Tri nằm ở phía cuối cù lao Bảo, có diện tích 354,80 km², có vị trí địa lý:

Phía đông bắc giáp huyện Bình Đại, có ranh giới tự nhiên là sông Ba Lai
Phía tây bắc giáp huyện Giồng Trôm
Phía tây nam giáp huyện Thạnh Phú, có ranh giới tự nhiên là sông Hàm Luông
Phía đông nam giáp với Biển Đông (chiều dài bờ biển gần 10 km).
Do vị trí nằm giữa hai cửa sông lớn, huyện Ba Tri là điểm định cư sớm nhất của những lưu dân người Việt trên đất Bến Tre. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, huyện Ba Tri gồm có 22 xã và 1 thị trấn.[1]

Huyện có diện tích 355 km² và dân số 246.450 người (đông nhất của tỉnh). Mật độ dân số 694 người/km². Huyện lỵ là thị trấn Ba Tri nằm cách thành phố Bến Tre khoảng 36km về hướng đông nam.
Lịch sử
Vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, vùng đất Ba Tri vẫn còn hoang vắng. Đầu thế kỷ XVIII, một số cư dân người Việt gốc miền Trung đã đến đây định cư, làm nghề biển và khai phá đất đai.

Ban đầu, cù lao Bảo thuộc tổng Tân An, châu Định Viễn, dinh Phiên Trấn. Thời Gia Long, cù lao Bảo được đặt là tổng An Bảo. Năm 1808, tổng An Bảo gồm 63 làng. Đến triều Minh Mạng (1832), tổng An Bảo được thăng lên huyện với tên mới là Bảo An. Đến năm 1837, huyện Bảo An được chia thành hai huyện: Bảo An và Bảo Hựu. Huyện Bảo An (mới) nằm ở phía Đông cù lao Bảo, có diện tích gần tương đương với huyện Ba Tri ngày nay.

Đầu thời Pháp thuộc, Ba Tri là đại lý hành chính ở tỉnh Bến Tre. Sau là xã ở tổng Ba Tri, huyện Kiến Hòa, tỉnh Gia Định. Năm 1912, Ba Tri là quận của tỉnh Bến Tre, gồm có 5 tổng là: Bảo An với 4 làng, Bảo Lộc với 6 làng, Bảo Thuận với 6 làng, Bảo Trị với 5 làng.